Thiền và trà Việt Nam

Thứ năm - 18/02/2016 22:45
Khi nhắc đến trà, nhiều người thường hay nghĩ đến một chút thiền trong đó. Trà và Thiền gắn liền với nhau, cùng làm cho tâm thanh tịnh, con người trở nên an nhiên và tĩnh lặng. Cố PGS.TS Đỗ Ngọc Quỹ đã có bài viết chia sẻ về vấn đề Thiền và Trà ở Việt Nam, xin chia sẻ cùng các bạn.
Thiền và trà Việt Nam
Thiền và trà Việt Nam

 

chen tra tren tay

Thiền và Trà trong sử sách

Theo Thiền sư Định Lực và cư sĩ Nhất Tâm (2003) trong cuốn “Phật giáo Việt Nam và thế giới”, viết như sau:
Cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III trước công nguyên, Đạo Phật được truyền vào Việt Nam qua Con đường Đồng cỏ (Chemin des steppes) còn gọi là con đường trà, tơ lụa (Route du thé, de la soie). Từ Trung Hoa có ba tông phái truyền vào Việt Nam đó là Thiền Tông, Tịnh độ tông và Mật tông.
Thiền tông là một pháp môn tụ tập có từ thời Đức Phật Thích Ca tại Ấn Độ rồi truyền sang Trung Hoa, nhanh chóng hình thành và phát triển. Khi nhà sư ngồi thiền đều dùng trà.
Thiền còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân lý. Tu theo pháp môn này, đòi hỏi hành giả phải có nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở từng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu và cũng chính vì họ ghi chép lại, mà chúng ta ngày nay mới biết được lịch sử Thiền tông ở Việt Nam.

Theo Nguyễn Đăng Thục (1997) trong “Thiền học Việt Nam”, viết về Thiền như sau:
Thiền học chính là một đặc trưng văn hoá do điều kiện sinh tồn đặc biệt của nhân loại cõi Lĩnh Nam, đất Giao Chỉ chỗ các trào lưu văn hoá ngưng tụ. Hay là như nhà khảo cổ học Olov Jansé trong Viễn Đông Phương Bác Cổ, đã mệnh danh cho tập nghiên cứu “Việt Nam, ngã tư các dân tộc và văn minh”. Giao Chỉ sớm là đầu mối giao thông đường biển giữa Trung Hoa và Ấn Độ, có quan hệ trong việc du nhập Phật giáo và Bà La Môn giáo vào Đông Nam Á.
Thiền học Việt Nam bắt đầu với cuộc gặp gỡ giữa Tổ đệ nhất Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitarusi) với Pháp Hiền ở chùa Pháp Vân, làng Cổ Châu (Bắc Ninh), khoảng thế kỷ thứ VI.
Vậy triết lý Thiền là gì, có phải là giáo lý của Phật giáo hay là sản phẩm của Trung Hoa? Nhiều học giả ngày nay cho Thiền là kết quả của sự gặp gỡ phối hợp giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo.
Dhyana của khoa Yoga là trạng thái định niệm vào Thượng Đế (God), coi như mục đích tối cao để thực hiện, còn Thiền ở Phật giáo không phải nhằm nối cá nhân với Thượng Đế, mà là để thấy Tự Tính hay Kiến tính, thấy Tự Ngã (Self), thực hiện Tâm Bồ Đề (Bodhi).

Theo Phạm Thị Ngọc Trâm (2001), trong “Thiền là gì?”
Nếu câu hỏi này được lặp đi lặp lại nhiều lần với các bậc thầy chứng ngộ khác nhau thì câu trả lời cũng có thể khác nhau, như các họa sĩ vẽ mặt trời mọc. Cách thức một bậc thầy cũng như của họa sĩ là truyền đạt một thông điệp, một cái thì có hình ảnh, một cái thì vô hình tướng, nên tuỳ căn cơ của người hỏi mà người thầy có những cách trả lời khác nhau để giúp người hỏi được tỏ ngộ ít nhiều nông sâu khác nhau.
Thiền không phải là một tri thức, một tôn giáo, triết học hay khoa học. Nhưng thật sự tri thức, không lìa Thiền, Tôn giáo nhờ Thiền mà thành tựu. Triết học nằm trong lĩnh vực Thiền và tinh thần của thực nghiệm khoa học cũng chính là tinh thần của Thiền. Thiền thực sự đã tồn tại khắp trong không gian vô cùng và thời gian vô tận. Nhiều người cho rằng Thiền có thể nhận thức được bằng trí óc, không Thiền không bao giờ có thể lĩnh hội được bằng trí óc cả. Do vậy Thiền chỉ có chứng ngộ hoặc là hiểu hoặc là không (chưa hiểu), không có giai đoạn hơi hiểu.
Thiền là con đường giúp cho trạng thái thân tâm hợp nhất, vì theo quan điểm của Thiền, Thân là phần hữu hình và Tâm là phần vô hình của thân; đó là phương tiện trọng yếu có khả năng dẫn ta tới sự hiểu biết đích thực. Chỉ có sự tự im lặng kiểm soát mình, trong sự tự ý thức cao độ về mình, người ta mới biết được mình là ai và mình sinh ra trên trái đất này để làm gì?.
Tác giả cũng không ghi chép gì về Trà thiền. Đoạn ký sự về Uống trà với thiền đã có trong cuốn Phong thị thính kiến sự, đời Nhà Đường ở Trung Hoa viết, nhà sư trong khi đại hưng thiền giáo đều uống trà, có thể giải thích nguồn gốc câu nói của nhà sư Viên Chiếu “cười tặng người bạn đi xa một âu trà, đã giác ngộ về Trà đạo ở đó, tính Phật ở đó”.

Kết luận

Bối cảnh tư tưởng của nghệ thuật Trà đạo Nhật Bản – chado – là triết học Phật giáo, với tư tưởng cốt lõi là Thiền. Nó lấy nội dung tôn giáo Thiền tông làm chủ thể, sử dụng trà để dung hoà tâm hồn con người với vũ trụ, tìm cái đẹp thanh tao trong giản dị, nhằm mục đích làm con người đạt tới đại triệt, đại ngộ (thông suốt, hiểu biết ở trình độ cao), mà tiến hành một phương thức tôn giáo mới. Tại Nhật Bản muốn trở thành Trà đạo phải có ba điều gồm có giáo chủ, giáo lý và thánh đường.
Theo nhà sư danh tiếng Nhật Bản Minh Huệ thượng nhân kể trên, trà có 3 đức, uống trà có thể ngồi thiền suốt đêm không ngủ, giúp cho tiêu hoá thuận lợi và tiết chế không gây ham muốn; cho nên người tu hành Phật giáo có tập quán uống trà để ngồi thiền.
Khoa học sinh hoá hiện đại giải thích đây là do chất cafêin, kích thích hệ thần kinh trung ương, có tác dụng kích hoạt thần kinh, như kinh nghiệm cổ truyền Trung Hoa “khinh thân, minh mục, ích tư duy” của danh y Hoa Đà thời Tam quốc ở Trung Hoa cổ đại. Mối liên hệ Trà – Thiền – Tâm – Đạo, hay mối quan hệ trà với tôn giáo, tâm linh có nguồn gốc vật chất là trà có chất cafêin thúc đẩy suy tư đánh giá bản thân trên cơ sở niềm tin đạo đức cổ truyền dân tộc.

Trà ở Trung Quốc không coi là hoá thân của Phật, mà chỉ là một “vật phẩm nghi thức của Phật giáo, phổ biến vào thời kỳ nhà Đường vào thế kỷ thứ VI”, của nhà sư dùng trong ngồi Thiền giáo, do tác dụng của trà đối với sinh lý con người mà thôi” Trà là một vật trong Hoà thượng gia phong”.
Nguyên nhân nội tại của khả năng kết hợp hài hoà với nhau của văn hoá trà và Phật giáo ở Trung Quốc, là hai loại văn hoá này đều thừa nhận sự tu dưỡng, khắc kỷ, kiệm ước và tinh cần (tu dưỡng, khắc phục bản thân, tiết kiệm, tinh thần lao động cần cù) của cá nhân con người, là con đường tất yếu để Phật hoá thân thành Thánh.
Còn ở Việt Nam các nhà nghiên cứu về Thiền kể trên đều không thấy nói đến Trà thiền. Điều này cũng thể hiện rõ ở lớp thượng lưu như các danh nhân văn hoá Việt Nam xưa và nay hay uống trà như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Tuân… chỉ coi uống trà như một thú vui thư giãn cao thượng, mà không coi trà như Thiền và cũng không thăng hoa đến cõi Bồng Lai tiên cảnh, như Lư Đồng, Ngọc Xuyên Tử ở Trung Quốc đời Nhà Đường, trong bài thơ cổ 1000 năm Thất uyển trà ca.
Không phải bất cứ người nào hễ uống trà là giác ngộ được ngay những điều huyền bí của Thiền tông, mà phải là nhà tu hành hay người có nhu cầu và thói quen suy ngẫm như những nhà ngồi thiền đã dày công luyện tập.

Tác giả bài viết: vietnam health

Nguồn tin: www.vietnamhealth.vn

 Từ khóa: thiền, thiền trà

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Logo và tên gọi Tâm Sen

Tên gọi: Tâm Sen Ý nghĩa: NukeViet là từ ghép từ chữ Nuke và Việt Nam. Sở dĩ có tên gọi này là vì phiên bản 1.0 và 2.0 của NukeViet được phát triển từ mã nguồn mở PHP-Nuke. Mặc dù từ phiên bản 3.0, NukeViet được viết mới hoàn toàn và trong quá trình phát triển của mình, nhiều cái tên đã...

Siêu thị bán lẻ
Thăm dò ý kiến

Lợi ích của phần mềm nguồn mở là gì?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây